Hiển thị các bài đăng có nhãn Vàng - chứng khoán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vàng - chứng khoán. Hiển thị tất cả bài đăng

TỔNG HỢP KIẾN THỨC


TỔNG HỢP KIẾN THỨC


1. QUY LUẬT:

MUA ===> LÊN
BÁN ===> XUỐNG

Mua ===> lên: mua vàng (thì vàng lên) và mua vàng khi thị thị trường có tín hiệu đi lên, mua hàng hóa của nước nào (thì đồng tiền nước đó lên), mua chứng khoán của nước nào (thì đồng tiền quốc gia đó lên), mua trái phiếu nước nào mạnh (thì đồng tiền quốc gia đó lên).

Bán ===> xuống: bán vàng (thì vàng xuống) và bán vàng khi thị trường có tín hiệu đi xuống, bán chứng khoán (thì chứng khoán xuống)...

2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI GIÁ VÀNG

Vàng & Đôla:

USD tăng ===> Vàng giảm
USD giảm ===> Vàng tăng

Vàng & Tiền tệ:

Vì chỉ số USD được thiết lập bởi các đồng tiền EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF. Khi có sự thay đổi giá trị của các đơn vị tiền tệ này thì chỉ số USD sẽ bị ảnh hưởng ===> Do đó: giá trị thời điểm của các đơn vị tiền tệ này ảnh hưởng trực tiếp đến giá vàng ===> Và khi một đơn vị tiền tệ mạnh ngoài USD, như JPY hay GBP tăng hoặc giảm mạnh do yếu tố kinh tế, chính trị, thì dòng chảy đầu tư hoặc đầu cơ mua hoặc bán vào đồng tiền này tăng mạnh.




Hàng hóa & Ngoại hối

Mọi nền kinh tế trên thế giới đều phải nhập khẩu một số hàng hóa để tiêu dùng. Đểu mua những hàng hóa này, những nhà nhập khẩu phải đổi đồng tiền của họ ra đồng tiền của nước mà họ muốn nhập khẩu hàng hóa. ===> Nhu cầu về đồng tiền của nước Xuất Khẩu cao hơn và tăng giá trị cho đồng tiền đó ===> Cung tiền của nước Nhập Khẩu cao hơn & làm giảm giá trị của đồng tiền đó.

KL: 

Nếu nước nào Xuất Khẩu, đồng tiền nước đó sẽ mạnh (tăng)
Nếu nước nào Nhập Khẩu, đồng tiền nước đó sẽ yếu (giảm)

Chứng khoán & Ngoại hối

Nếu chứng khoán của một quốc gia hoạt động tốt hơn một quốc gia khác, các nhà kinh doanh ngoại hối sẽ chuyển tiền của họ từ quốc gia có TTCK yếu ===> quốc gia TTCK mạnh ===> Đồng tiền quốc gia TTCK mạnh tăng lên, Còn đồng tiền quốc gia TTCK yếu giảm đi.

Trái phiếu & Ngoại hối

Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn.

Phát hành trái phiếu là đi vay vốn. Mua trái phiếu là cho người phát hành vay vốn và như vậy, trái chủ là chủ nợ của người phát hành. Là chủ nợ, người nắm giữ trái phiếu (trái chủ) có quyền đòi các khoản thanh toán theo cam kết về khối lượng và thời hạn, song không có quyền tham gia vào những vấn đề của bên phát hành.

Trái phiếu chính phủ: có độ rủi ro gần như bằng không bởi chúng được đảm bảo bởi niềm tin của chính phủ các quốc gia.

Những NĐT mua trái phiếu của nước có lãi suất cao, ví dụ: NĐT muốn mua trái phiếu của chính phủ Mỹ, họ phải chuyển đổi sang đồng tiền của chính phủ Mỹ (đồng USD) ===> ĐôLa tăng.

Ví dụ: Fed mua trái phiếu tức là cho vay tiền. Còn chính phủ Mỹ là người đi vay. Fed giảm mua trái phiếu 10 tỷ USD tức là cắt giảm, không cho chính phủ Mỹ vay tiền: có thể thúc đẩy kinh tế, hoặc kinh tế đang trên đà tăng trưởng tránh in thêm tiền để đẩy lùi lạm phát.

3. CÁC CHỈ SỐ QUAN TRỌNG

Những chỉ số cơ bản làm giá biến động mạnh trong 20 phút đầu tiên công bố:

Nonfarm - Payrolls : Bảng lương phi nông nghiệp
Interest rate (FOMC) : Lãi suất
Inflation (CPI) : Lạm phát (Chỉ số giá tiêu dùng)
Retail Sales : Chỉ số bán lẻ
Producer Price Index : Chỉ số giá sản xuất
New Home Sales : Chỉ số nhà bán mới
Existing Home Sales : Chỉ số nhà đã xây dựng sẵn bán
Durable Goods Orders : Đơn đặt hàng lâu bền

Những chỉ số làm giá cả biến động mạnh trong ngày công bố thông tin:

Nonfarm - Payrolls: Bảng lương phi nông nghiệp
ISM Non - Manufacturing : Chỉ số ISM lĩnh vực phi sản xuất
Personal Spending : Tiêu dùng cá nhân
Inflation (CPI) : Lạm phát (Chỉ số giá tiêu dùng CPI)
Existing Home Sales : Chỉ số nhà cũ bán
Consumer Confidence : Tâm lý tiêu dùng
University of Michigan Consumer Confidence : Cuộc điều tra của Đại học Michigan về tâm lý tiêu dùng
FOMC Minutes : Cuộc họp của Fed
Industrial Production : Sản lượng công nghiệp

3.1 Bảng lương Phi nông nghiệp NFP có ý nghĩa gì?

Bảng lương Phi nông nghiệp NFP là một trong những chỉ số kinh tế quan trọng nhất của Mỹ. Nó được công bố mỗi tháng một lần. Nó phản ánh rất rõ nét thị trường lao động Mỹ và được các nhà kinh doanh cũng như các nhà phân tích theo dõi sát sao. Số lượng việc làm mới tăng cao là dấu hiệu cho thấy kinh tế đang tăng trưởng bởi nó chứng tỏ các công ty đang thuê thêm người để đáp ứng nhu cầu của mình về lao động để hoàn thành các đơn đặt hàng của khách hàng.

Bảng lương Phi nông nghiệp = Tỷ giá hối đoái


Tỷ lệ thất nghiệp = Tỷ giá hối đoái

Các mối quan hệ USD - Vàng - Hàng hóa - Chứng khoán - Trái phiếu - QE

CÁC MỐI QUAN HỆ USD - VÀNG - HÀNG HÓA - CHỨNG KHOÁN - TRÁI PHIẾU - QE

Mối quan hệ nghịch đảo giữa vàng và đôla

Một trong những mối quan hệ được biết đến rộng rãi nhất trên thị trường tiền tệ có lẽ là mối tương quan tỷ lệ nghịch giữa vàng và đôla Mỹ (USD).

Mối quan hệ này bắt nguồn từ thực tế rằng vàng được coi là công cụ hữu hiệu để phòng ngừa lạm phát nhờ vào giá trị ổn định, trong khi đó, đôla Mỹ thể hiện vị thế của mình thông qua mức lãi suất được neo theo tỷ giá đôla. Khi giá trị trao đổi của đôla Mỹ giảm đi, phải mất nhiều đôla hơn để mua được vàng, nên giá trị của vàng được nâng lên. Ngược lại, khi giá trị trao đổi của đôla Mỹ tăng lên, cần ít đôla hơn để mua được vàng, dẫn đến việc giá trị vàng tính bằng đôla giảm xuống.

Khác với tiền tệ, trái phiếu chính phủ, và cổ phiếu doanh nghiệp – đều được quyết định bởi cung cầu cũng như khả năng phát hành của chính phủ hay các doanh nghiệp – vàng gần như độc lập với cung và cầu, cũng không hề liên quan đến việc thay đổi các chính sách tiền tệ hay chính sách công ty, cũng như sự xuất hiện của các nguồn vốn, khoản nợ hay đồng tiền mới.

Mặc dù vàng vẫn duy trì mối quan hệ nghịch đảo với các đồng tiền khác chứ không riêng gì đồng đôla, nhưng về cơ bản, mối tương quan tỷ lệ nghịch giữa vàng và đôla là rõ nét nhất bởi USD chiếm tỷ trọng lớn nhất trong dự trữ ngoại hối của các NHTW.

Mối liên hệ giữa vàng và thị trường tiền tệ

Khi cầu USD tăng cao thì có tác động đến giá vàng hay không và tác động của nó đến vàng như thế nào?

Giá vàng hiện chủ yếu được yết bằng USD, do vậy biến động của chỉ số USD có ảnh hưởng trực tiếp đến giá vàng. Ngoài ảnh hưởng bởi tỷ giá quy đổi giữa vàng và USD thì ngay trong bản thân các yếu tố tác động đến sự tăng - giảm của chỉ số USD cũng ảnh hưởng trực tiếp đến giá vàng theo từng thời điểm nhất định.

Khi nhu cầu USD tăng, USD sẽ được định giá cao hơn bởi nhiều yếu tố kinh tế tác động, trong đó có một số yếu tố ảnh hưởng trực tiếp như: tăng lãi suất, các chỉ số sức mạnh của nền kinh tế Mỹ tăng bền vững và chính trị bình ổn, khi đó giá vàng sẽ được điều chỉnh lại thông qua quy đổi. Về mặt quy đổi trong mối tương quan của các cặp tiền tệ, chúng ta nhận thấy, khi USD tăng thì giá vàng được định giá bằng đồng USD sẽ trở nên đắt hơn so với các loại tiền tệ khác, ngay lập tức giá vàng sẽ được điều chỉnh giảm.

Để đồng USD trở nên mạnh hơn nhờ sự hỗ trợ bởi nhiều yếu tố, trong đó tình hình tăng trưởng ổn định của nền kinh tế Mỹ là quan trọng nhất. Khi nền kinh tế toàn cầu tăng trưởng ổn định thì vàng sẽ không có nhiều sự hỗ trợ cho việc tăng giá. Một khi chỉ số USD được củng cố bởi các yếu tố, dẫn đầu là chính sách lãi suất, kinh tế tăng trưởng đều, chỉ số thu nhập và niềm tin tiêu dùng được củng cố thì các nhà đầu cơ, nhà đầu tư sẽ tăng cường giữ USD theo thời điểm hoặc dài hạn để kiếm lợi nhuận và là phương tiện thanh toán, chính điều này cũng là yếu tố không hỗ trợ cho giá vàng.

Các đồng tiền mạnh trong rổ tiền tệ khi tăng hoặc giảm thì có ảnh hưởng ít nhiều đến đến chỉ số USD, vì chỉ số USD được thiết lập bởi các đồng tiền EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF. Khi có sự thay đổi giá trị của các đơn vị tiền tệ này thì chỉ số USD sẽ bị ảnh hưởng. Do đó, chúng ta có thể hình dung rằng, giá trị thời điểm của các đơn vị tiền tệ này ảnh hưởng gián tiếp đến giá vàng. Và khi một đơn vị tiền tệ mạnh ngoài USD, như EUR, JPY hay GBP tăng hoặc giảm mạnh do yếu tố kinh tế, chính trị, thì dòng chảy đầu tư hoặc đầu cơ mua hoặc bán vào đồng tiền này tăng mạnh. Một số chỉ số cơ bản mà nhà đầu tư có thể theo dõi khi phân tích giá vàng: USD Index, EUR/USD, giá dầu thô, giá bạc và sự tăng giảm của chỉ số chứng khoán trên các TTCK lớn

Mối quan hệ giữa thị trường hàng hóa và thị trường ngoại hối

Việc nhu cầu hàng hóa toàn cầu gia tăng đã kéo thị trường hàng hóa và thị trường ngoại hối gần nhau hơn. Mọi nền kinh tế trên thế giới đều phải nhập khẩu một số hàng hóa để tiêu dùng. Để mua những hàng hóa này, những nhà nhập khẩu phải đổi đồng tiền của họ ra đồng tiền của nước mà họ muốn nhập khẩu hàng hóa. Giao dịch này sẽ khiến nhu cầu về đồng tiền của nước xuất khẩu cao hơn và tăng giá trị cho đồng tiền đó. Giao dịch này cũng sẽ khiến cung tiền của nước nhập khẩu cao hơn và làm giảm giá trị của dồng tiền đó.
Ba đồng tiền lớn là đô Úc, đô Canada và đô New Zealand có mối quan hệ mật thiết với giá trị của hàng hóa bởi ba nước này là những nước xuất khẩu hàng hóa lớn. Khi giá của hàng hóa tăng, giá trị của những đồng tiền này cũng gia tăng và ngược lại.

Mỗi đồng tiền trong nhóm trên bị tác động bởi rất nhiều loại hàng hóa khác nhau. Ví dụ, đồng đôla Úc có mối liên hệ chặt chẽ với giá vàng, nếu giá vàng tăng thì giá trị của đồng đôla Úc cũng tăng theo và ngược lại.

Việc để ý tới những gì sẽ diễn ra trong thị trường hàng hóa trong những năm tiếp theo sẽ giúp bạn có được lợi nhuận lớn trong thị trường ngoại hối. Nhu cầu từ toàn cầu gia tăng sẽ đẩy giá hàng hóa lên cao hơn trong những năm tiếp theo. Vì thế hãy chuẩn bị để kiếm lợi nhuận không chỉ từ những đồng tiền sẽ tăng giá khi giá hàng hóa tăng mà cả những đồng tiền sẽ yếu đi.

Mối quan hệ giữa thị trường chứng khoán và thị trường ngoại hối

Các nhà đầu tư cá nhân trên thế giới thường theo dõi thị trường chứng khoán sát sao hơn các thị trường khác. Chứng khoán vốn hấp dẫn bởi chúng tồn tại đã lâu và các nhà đầu tư cá nhân có thể liên hệ tới các công ty mà họ mua chứng khoán. Khi thị trường chứng khoán hoạt động tốt, các nhà đầu tư sẽ đổ tiền vào thị trường chứng khoán. Khi thị trường chứng khoán hoạt động khó khăn, các nhà đầu tư sẽ rút tiền ra khỏi thị trường.

Toàn cầu hóa tạo cơ hội cho các nhà đầu tư từ các quốc gia đầu tư dễ dàng hơn vào thị trường chứng khoán của các quốc gia khác. Nếu các nhà đầu tư nhận thấy thị trường chứng khoán Mỹ đang hoạt động hiệu quả thì họ sẽ nhanh chóng chuyển qua mua chứng khoán Mỹ. Nếu họ thấy chứng khoán ở Nhật Bản đang hoạt động tốt hơn ở Châu Âu, các nhà đầu tư sẽ rút tiền của họ ra khỏi thị trường Châu Âu để đầu tư vào thị trường Nhật Bản.

Chứng khoán của mỗi quốc gia được giao dịch bằng đồng tiền của quốc gia đó. Để đầu tư vào chứng khoán Mỹ, các nhà đầu tư phải đổi tiền của họ ra đồng đôla Mỹ, do đó làm gia tăng nhu cầu của đồng đôla Mỹ và đẩy giá trị của đồng đôla Mỹ tăng. Cùng thời điểm đó, nguồn cung của các đồng tiền khác sẽ tăng và làm giảm giá tri của các đồng tiền này.

Các nhà kinh doanh ngoại hối thường quan sát thị trường chứng khoán của các quốc gia lớn. Nếu chứng khoán của một quốc gia hoạt động tốt hơn một quốc gia khác, các nhà kinh doanh ngoại hối biết rằng các nhà đầu tư khác sẽ chuyển tiền của họ từ quốc gia có thị trường chứng khoán yếu hơn sang quốc gia có thị trường chứng khoán mạnh hơn. Điều này sẽ khiến giá trị đồng tiền của quốc gia có thị trường chứng khoán mạnh hơn tăng lên so với đồng tiền của quốc gia có thị trường chứng khoán yếu hơn. Bằng cách nắm bắt cơ hội đó, bạn có thể kiếm được lợi nhuận ngon lành.

Mối quan hệ giữa thị trường trái phiếu và thị trường ngoại hối

Sau thị trường ngoại hối, thị trường trái phiếu là thị trường tài chính lớn thứ hai trên thế giới. Các chính phủ, các tổ chức và các nhà đầu tư cá nhân đều tham gia hoạt động trên thị trường trái phiếu. Mỗi thành phần này đều có chung một mục đích đó là tìm kiếm lợi nhuận từ hoạt động đầu tư của họ.

Trái phiếu chính phủ chiếm tỷ lệ lớn nhất trong thị trường trái phiếu. Các trái phiếu này là những tài khoản đầu tư có độ rủi ro gần như bằng không bởi chúng được đảm bảo bởi niềm tin của chính phủ các quốc gia. Một số chính phủ trả lãi suất trên trái phiếu của họ cao hơn các chính phủ khác. Các nhà đầu tư quốc tế thu được lợi nhuận khi họ quyết định trái phiếu của chính phủ nào họ sẽ đầu tư. Các trái phiếu với lãi suất cao hơn sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư hơn khi nền kinh tế của các trái phiếu đó phát triển ổn định.

Những nhà đầu tư mong muốn mua trái phiếu chính phủ sẽ phải dùng tiền của chính phủ đó để mua. Nếu các nhà đầu tư muốn mua trái phiếu của chính phủ Mỹ, họ phải chuyển đối sang đồng tiền của chính phủ Mỹ ( đồng USD). Điều này sẽ làm tăng nhu cầu của đồng đôla Mỹ và làm tăng giá trị của đồng đôla Mỹ. Cùng thời điểm đó, nguồn cung của các đồng tiền khác sẽ tăng và làm giảm giá trị của các đồng tiền đó.

Hiểu biết chính phủ nào đưa lãi suất của trái phiếu cao hơn và trái phiếu nào đang tăng phổ biến sẽ giúp bạn biết được cặp đồng tiền nào nên mua và cặp nào nên bán. Một điều may mắn rằng thị trường trái phiếu hiếm khi tự thay đổi chiều hướng, nó hoạt đông theo chu kỳ trong dài hạn và bạn có thể dự đoán được một số xu hướng của nó.

Nới lỏng định lượng (QE) là gì?

Công cụ cơ bản mà các NHTW dùng để kiểm soát nguồn cung tiền là lãi suất. Nhưng khi lãi suất tiến sát ngưỡng 0% thì hiệu quả của công cụ này lại giảm sút. Khi đó, chương trình nới lỏng định lượng (QE – Quantitative Easing) được áp dụng.

Các ngân hàng trung ương thường sử dụng hai công cụ cơ bản để kiểm soát nguồn cung tiền.

Thứ nhất, các ngân hàng trung ương có thể thiết lập lãi suất để khuyến khích hoặc hạn chế chi tiêu. Lãi suất càng thấp thì chi phí đi vay càng thấp, từ đó kích thích chi tiêu và vay mượn.

Tuy nhiên, lãi suất không thể xuống dưới 0%. Khi tiến gần đến giới hạn này, lãi suất trở nên ít hiệu quả hơn.

Và do đó, các ngân hàng trung ương buộc phải sử dụng chương trình nới lỏng định lượng (QE).

Cụ thể, các ngân hàng trung ương tiến hành in tiền và ghi nợ vào tài khoản của mình.

Tiếp đó, các ngân hàng trung ương sử dụng số tiền này để mua tài sản từ các ngân hàng nên các ngân hàng này sẽ có thêm nhiều tiền.

Kỳ vọng của các ngân hàng trung ương là các ngân hàng sẽ sử dụng số tiền này cho các doanh nghiệp và người dân vay để đầu tư hoặc chi tiêu, từ đó kích thích nền kinh tế.

Tuy nhiên, không có gì đảm bảo rằng các ngân hàng này sẽ cho doanh nghiệp và người dân vay tiền.

Bên cạnh đó, QE cũng đem lại nhiều rủi ro như gây ra lạm phát do các ngân hàng trung ương in quá nhiều tiền. Còn nếu in ít tiền, QE sẽ không hiệu quả.

Với những bất đồng sâu sắc về hiệu quả của QE và rủi ro quá lớn kèm theo, kết quả mà chương trình này mang lại vẫn còn là một ẩn số.





Những chỉ số ảnh hưởng mạnh tới đồng USD

Những chỉ số ảnh hưởng mạnh tới đồng USD

Non-Farm Payrolls (Bảng lương phi nông nghiệp) từng được đánh giá là chỉ số kinh tế tác động mạnh nhất đến đồng USD, nhưng năm nay đã bị chiếm chỗ. Trở lại vào tháng 4 – 2005, chúng ta từng công bố phân tích cơ sở dữ liệu cho thấy chỉ số Non-Farm Payrolls tác động mạnh nhất đến xu hướng thay đổi hàng ngày của đồng USD. Phân tích mới nhất đánh giá ảnh hưởng của kinh tế lên tỉ giá tiền tệ trong khoảng thời gian từ tháng 5 – 2005 đến tháng 5 – 2006 cho thấy chỉ số ISM (Institute of Supply Management's index, chỉ số giá sản xuất) đo lường tác động của các yếu tố sản xuất đã vượt qua chỉ số Non-Farm Payrolls trở thành chỉ số tác động mạnh nhất đến USD trong 12 tháng vừa qua. Sự thay đổi mà chúng ta thấy trong bảng xếp hạng căn bản do sự thăng trầm của chu kì kinh tế, sự thay đổi của các thị trường lớn và tác động mạnh của Cục dự trữ liên bang Mỹ đến tỉ lệ lạm phát. Cho dù bạn là nhà phân tích kĩ thuật hay phân tích căn bản, việc nắm vững các yếu tố có thể tác động đến xu hướng thị trường đặc biệt quan trọng. Tùy thuộc vào chiến lược giao dịch riêng của từng người, nó sẽ giúp bạn quyết định khi nào vào thị trường và khi nào ra. Mức độ quan trọng của các dữ liệu phân tích cơ sở theo thời gian Khi mà đồng USD chiếm 90% trong các cặp tiền được giao dịch mỗi ngày trên thế giới, những dữ liệu phân tích cơ sở của Mỹ được xem là nhân tố quan trọng nhất cần quan tâm. Trong nghiên cứu này, chúng ta sẽ tâp trung vào một số nhân tố được xem là nguyên nhân của những biến động lớn về tỉ giá, bằng cách xem xét các khung thời gian để đo tác động trực tiếp và tác động lâu dài vào đồng USD. Bắt đầu với những tác động trực tiếp lên khung thời gian 20 phút, chỉ số thất nghiệp và chỉ số lãi suất của FED đứng đầu về ảnh hưởng của nó. Tuy nhiên, khi xem xét mức tác động, chúng ta thấy cán cân giao dịch, lạm phát và chỉ số bán lẻ (retail sales) đã có tầm quan trọng cao hơn , đẩy chỉ số Foreign Purchases of US Treasuries (TIC) từ hạng 3 năm 2004 xuống hạng 6 năm 2006. Lãi suất của FED bị kéo theo bởi sự tăng giá vượt mức của giá dầu và giá vàng đã đẩy cán cân tiền tệ và cán cân thanh toán của Mỹ đến mức đáng lo ngại hơn so với các chỉ số khác. Chỉ riêng trong khoảng thời gian từ tháng 6 – 2005 đến tháng 6 – 2006, giá dầu tăng hơn 50% và giá vàng tăng hơn 73% so với giá cao nhất cùng kì năm trước. Điều này lý giải tại sao lạm phát tăng mạnh. Tỉ giá qua đêm ngày càng tăng, các thành phần thị trường nghiêng về mức tăng trưởng của giá ( chính sách tiền tệ của FED) .


Trong bảng đánh giá mới nhất về các chỉ số tác động vào thị trường năm nay sẽ có thêm khung thời gian 60 phút . Khung thời gian này cho phép tách ra những yếu tố ảnh hưởng lập tức đến phản ứng ban đầu của thị trường, nhưng vẫn cho thấy dấu hiệu xu hướng phát triển của thị trường sau đó. Không có nhiều ngạc nhiên, nhiều chỉ số đứng đầu trong khung 20 phút tại khung thời gian mới này vẫn cho thấy độ nhạy của thị trường đối với chỉ số đó, và cho thấy các chỉ số không chỉ tác động trong ngắn hạn mà còn trong thời gian dài. Khác biệt lớn nhất mà chúng ta thấy là sự thay đổi vị trí giữa Trade balance và lãi suất FOMC

ISM vượt lên dẫn đầu Bây giờ chúng ta đến khung thời gian đầy đủ nhất – khung thời gian ngày (daily) và thông qua việc đánh giá khả năng tác động vào thị trường hoặc tạo nên xu hướng mới của các chỉ số. Không ngạc nhiên khi vẫn là các chỉ số trong top 2004 tiếp tục dẫn đầu. Non-farm Payrolls và Trade Balance là 2 chỉ số vẫn nằm trong top 3. Tuy nhiên, có những thay đổi đáng kể trong cơ sở phân tích là nguyên nhân đẩy chỉ số ISM manufacturing lên vị trí dẫn đầu. Điều này có thể giải thích với những lý do chính : chỉ số ISM do được công bố vào đầu mỗi tháng, cho phép dẫn dắt thị trường trước chỉ số Non-farm payrolls. Bản báo cáo ISM bao gồm 2 yếu tố chính tạo ra xu hướng trong suốt tháng, đó là lương và việc làm . Do tác động từ những công việc độc lập và yếu tố lạm phát liên tiếp, đây sẽ là yếu tố chính thúc đẩy mức kì vọng vào giá của mọi người trong những tin chính thức sau đó. Mức lương cao đem lại tín hiệu tốt lành cho thị trường. Chỉ số việc làm để dự đoán bảng lương phi nông nghiệp sẽ ra trong vài ngày tiếp theo trong khi chỉ số lương được dùng để dự đoán chỉ số giá tiêu dùng và giá sản xuất cùng với quyết định của FED.

Tại sao một số chỉ số không nằm trong danh sách trên? Có rất nhiều chỉ số không được nằm trong danh sách liệt kê cho dù các nhà giao dịch nghĩ rằng nó ảnh hưởng rất mạnh. Chỉ số sản xuất công nghiệp (Industrial Production ) và chỉ số Lòng tin người tiêu dùng của ĐH Michigan (the University of Michigan Consumer Confidence) là ví dụ cụ thể. Những chỉ số trên do được tung ra trong thời gian xuất hiện rất nhiều chỉ số cùng lúc. Trong 12 tháng qua, luôn có hơn 1 chỉ số luôn xuất hiện cùng lúc với chỉ số Industrial Production, vì thế nó làm giảm ý nghĩa của chỉ số này. Dao động thị trường đang giảm Một lý do khác cho sự thay đổi trong việc xếp hạng là sự ổn định tương đối của đồng EUR/USD trong khoảng tháng 6 – 2005 đến tháng 6 – 2006. Trong năm 2004, dao động trung bình của cặp EUR/USD là 111 pips / ngày. Sau 12 tháng, nó đã giảm xuống chỉ còn 104 pips. Cho dù sự thay đổi là khá nhỏ, nó phản ánh tác động của tin tức đến thị trường. Trước đây khi chỉ số Non-farm Payroll dẫn đầu danh sách vào năm 2004, mức dao động trung bình sau khi ra tin lên đến 193 pips, so sánh với chỉ 130 pips dao động đối với chỉ số ISM index trong năm 2006. Sự chênh lệch về lãi suất giữa các vùng trên thế giới thay đổi cũng là nguyên nhân tác động đến dao động thị trường. 


Kết luận Trong 1 thế giới thay đổi, vai trò của các chỉ số quan trọng trong nền kinh tế Mỹ cũng thay đổi. Chơi theo kĩ thuật ngày càng trội hơn trong thị trường, chơi theo cơ bản cũng rất quan trọng và như chúng ta thấy nó tác động rất lớn vào dòng tiền. Một số nhà giao dịch chọn cuốn theo thị trường, trong khi số khác luôn tuân thủ những nguyên tắc chiến lược thông minh để tránh khỏi chúng. Nghiên cứu trên cho thấy các nhà giao dịch không chỉ phải bám sát chỉ số Non-farm payrolls , mà cũng cần quan tâm các chỉ số khác, đặc biệt là ISM

Lạm phát

Lạm phát !!!

Để đo lường tỉ lệ lạm phát, người ta thường dùng hai chỉ số:

Chỉ số giá cả sản xuất PPI (Producer Price Index). Đây là chỉ số giá thành sản xuất của một số mặt hàng và dịch vụ tiêu biểu. Mang so sánh với thời kỳ trước để tính ra tỉ lệ tăng giảm như thế nào. Chỉ số PPI tuy có thể là dấu báo hiệu hiện tượng lạm phát nhưng chưa hẳn lạm phát sẽ bắt buộc phải xảy ra.

Chỉ số giá cả tiêu thụ CPI (Consumer Price Index). Chỉ số giá cả của một số nhu yếu phẩm và dịch vụ tiêu biểu. Chỉ số CPI cho biết tỉ lệ lạm phát thật sự đang xảy ra khi so sánh với thời kỳ trước đó.

Ảnh hưởng của lạm phát đối với nền kinh tế

Lạm phát khó có thể là một điều tốt lành cho nền kinh tế trừ trường hợp ở mức độ nhẹ và trong tầm kiểm soát của chính phủ. Ví dụ, hàng năm chính phủ có thể phát hành thêm một lượng tiền mới để tiêu xài cho những chương trình công cộng hoặc giải quyết thiếu hụt ngân sách khiến đồng tiền được xoay vòng tạo ra thêm của cải, trực tiếp đẩy cao tổng sản lượng quốc dân GDP (Gross Domestic Product) lên thêm một mức. Dĩ nhiên nếu quá đà sẽ có nguy cơ gây ra lạm phát nặng hoặc siêu lạm phát và làm các hoạt động kinh tế sẽ bị tê liệt.

Nhiều người quan niệm việc chính phủ in thêm tiền trong giới hạn cho phép của nền kinh tế là một hình thức thu “thuế lạm phát”. Chính phủ sử dụng khoản phụ trội này để quân bình ngân sách với hi vọng sang năm kinh tế tiếp tục phát triển sẽ được nộp ngân sách nhiều hơn.

Một chút lạm phát cũng khiến doanh nghiệp kiếm thêm lợi nhuận vì thông thường từ khâu nhập nguyên liệu (giá trước lạm phát) đến lúc hoàn thành sản phẩm bán được cao giá hơn cũng tốt thêm cho doanh vụ.

Ngoài những trường hợp kể trên, bao giờ lạm phát cũng có ảnh hưởng xấu đối với kinh tế. Tỉ lệ lạm phát bao nhiêu là vừa phải cũng tùy thuộc vào tình hình phát triển kinh tế của từng nơi, đặc điểm của nền kinh tế của từng quốc gia khác nhau. Theo lẽ thông thường thì tỉ lệ lạm phát nếu giữ được ở mức thấp hơn tỉ lệ phát triển kinh tế thì là điều tốt. Do đó, các quốc gia đang ở giai đoạn kinh tế cất cánh (tỉ lệ phát triển xấp xỉ 10%) có thể chấp nhận một tỉ lệ lạm phát cao hơn các quốc gia đã phát triển (tỉ lệ phát triển dưới 5%).

Lạm phát không kiểm soát nổi sẽ đưa đến tình trạng giá thành các mặt hàng tăng cao. Giá hàng hóa lên cao sẽ làm giảm nhu cầu tiêu thụ. Hàng hoá trở nên dư thừa và ế ẩm. Để sống còn, công ty sản xuất phải chịu lỗ, hạ giá bán và thu nhỏ hoạt động lại. Một số hãng xưởng sẽ phải đóng cửa và công nhân bị sa thải ra làm nhu cầu chung về tiêu thụ lại càng giảm nữa. Đến đây bắt đầu giai đoạn giảm phát. Hàng hoá sẽ xuống giá cho đến khi nào tìm được một sự quân bình mới giữa cung cầu. Lúc đó kinh tế đi vào giai đoạn suy thoái và tiêu chuẩn sống (standards of livings) của người dân bị giảm sút.

Cách chống đỡ lạm phát theo kiểu Mỹ

Giao quyền hạn cho Cục Dự trữ Liên Bang (Federal Reserves) còn gọi là Ngân Hàng Alan Greenspan -

Cái tên gắn liên với FED

Trung Ương (Central Bank) nhiệm vụ theo dõi tình hình phát triển kinh tế và lạm phát để kịp thời đề ra những biện pháp thích nghi. Vũ khí chính của Cục Dự trữ Liên Bang (FED) là lãi suất cho vay. Khi nào muốn kích thích kinh tế thì giảm lãi xuất xuống. Ngược lại khi thấy có dấu hiệu lạm phát thì tăng lãi xuất, kềm hãm sản xuất lại, không để lạm phát có cơ hội phát triển. Một biện pháp khác của FED là tăng hay giảm lưu lượng (liquidity) đồng dollar đang lưu hành trong dân chúng. Khi cần rút bớt lưu lượng tiền, FED sẽ bán đấu giá trái phiếu kho bạc (bonds) của chính phủ nhiều hơn. Khuynh hướng tự nhiên là sẽ giảm hoạt động kinh tế vì các nhà đầu tư giữ công khố phiếu để lấy lời, không sẵn tiền để hoạt động sản xuất nữa. Ngược lại khi muốn kích thích kinh tế, FED có thể thu mua trái phiếu và tung thêm tiền vào lưu lượng sẵn có.

Mở rộng thị trường lao động bằng cách đưa ra nước ngoài (outsource) một số kỹ nghệ không có tính cách quốc phòng.
Thỏa hiệp giữa các nghiệp đoàn chủ nhân và thợ thuyền về lương để đôi bên cùng có lợi, phần nào ổn định mặt chi phí về lương (cộng thêm phúc lợi có thể chiếm đến ¾ giá thành sản phẩm tại Mỹ).
Ổn định các khu vực nóng để kiểm soát các nguồn nguyên liệu tối cần thiết như dầu hỏa, than mỏ.

Giữ gìn trật tự toàn cầu, không để những đột biến chính trị và khủng bố làm mất ổn định khu vực.

Kiến thức cần thiết khi tham gia thị trường vàng


KIẾN THỨC CẦN THIẾT KHI THAM GIA THỊ TRƯỜNG VÀNG

1.KIẾN THỨC CƠ BẢN.

1.1 Thị trường vàng chịu tác động bởi những thông tin nào?

Vàng neo giá theo USD, tức AU/USD.Vì vậy giá vàng chịu tác động trực tiếp bởi biến động của đồng USD, nhưng chính xác hơn cả là vàng chịu tác động trực tiếp bởi tình hình kinh tế Mỹ. Có thể hiểu cơ bản như sau, nếu kinh tế Mỹ nói riêng và kinh tế TG nói chung phát triển tốt, thì giá vàng sẽ chịu áp lực giảm và ngược lại.Tuy nhiên quy luật trên không là bất biến và thay đổi theo từng giai đọan khác nhau khi Vàng đóng vai trò là kênh đầu tư phòng thủ hoặc rủi ro.Tuyệt đối không máy móc áp dụng nguyên tắc trên trong phân tích

Giá vàng biến động cực kỳ nhạy với các thông tin sau: lạm phát của các quốc gia lớn như Mỹ, EU,Trung Quốc, Nhật…Hiểu cơ bản nếu lạm phát lên cao thì vàng sẽ tăng giá, lý do là giới đầu tư sẽ tìm đến vàng như phương tiện trú ẩn an toàn để tránh hậu quả của việc đồng tiền mất giá.

Giá vàng chịu tác động mạnh nếu có chiến tranh, hoặc căng thẳng chính trị tại các quốc gia có vị thế kinh tế hoặc vị thế nhiên liệu trên TG. Yếu tố này là ngoài tầm kiểm soát tuy nhiên cần theo dõi sát xao để tránh việc đầu tư ngược xu hướng.

Giá vàng chịu tác động mạnh từ biến động giá dầu.Về cơ bản giá vàng và giá dầu biến động thuận chiều.Giá dầu tăng cao sẽ gây áp lực cho nền kinh tế, cụ thể là kìm hãm đà phát triển của kinh tế và đẩy chi phí đầu vào lên cao gây nên nguy cơ lạm phát trên diện rộng.

Giá vàng chịu tác động từ yếu tố cung cầu.Ví dụ khi cầu về vàng tăng cao thì giá vàng sẽ tăng. Lưu ý là cung vàng hiện tại luôn có giới hạn vì vậy bất cứ sự thay đổi nào về lượng cầu đều có thể tác động lên giá vàng.

1.2 Cần quan tâm đến các chỉ số kinh tế nào của Mỹ.

Sức khỏe kinh tế Mỹ được đong đếm bằng một hệ thống các chỉ số khoa học và thống nhất. Các chỉ số này là khá đa dạng và khó lòng nắm bắt toàn bộ. Tuy nhiên cần lưu ý đến các chỉ số chính sau:

Phân tích tác động của thông tin

1. Đồng tiền thể hiện sức mạnh của một quốc gia.
2. Đánh giá thông tin tốt hoặc xấu nhằm đưa ra những dự đoán về hướng đi của đồng tiền.

Có 4 nguyên nhân chủ yếu:
- Interest rate (lãi suất)
- Economic growth (sự phát triển kinh tế)
- Geo politics (kinh tế chính trị)
- Trade and capital flow (cán cân giao dịch và dòng chu chuyển vốn)

Các yếu tố tác động đến giá vàng thế giới - US Dollar Index
USD Index được cấu thành từ 6 đồng tiền chính:
- Euro (EUR): 57,6%
- Yen JPY) : 11,9%
- Cable (GBP): 11,9%
- Loonie (CAD): 9,1%
- Kronas (SEK): 4,2%
- Francs (CHF): 3,6%

US Dollar Index là gì?
USD Index (USDX) ra đời tháng 3/1973 khi các cường quốc kinh tế thời kỳ đó đồng ý thả nổi đồng tiền của mình. Giá trị ban đầu của chỉ số này là 100. USDX đạt cao nhất là 165 điểm và thấp nhất là 70 điểm. USDX là chỉ số dùng để đo giá trị đồng USD trên thị trường thế giới. Chỉ số này còn được gọi là Weighted Index, nghĩa là các thành viên cấu tạo chỉ số này có một giá trị khác nhau.
USDX được cấu tạo bởi sáu thành viên là: EUR (euro), JPY (yên Nhật), GBP (bảng Anh), CAD (đôla Canada), SEK (krona Thụy Điển), CHF (franc Thụy Sĩ).

* Đồng USD là vật đại diện cho sức mạnh của nền kinh tế Mỹ. Những thông tin kinh tế sẽ tác động trực tiếp đến giá trị của đồng tiền này, làm biến đổi tỉ giá đối với các ngoại tệ thả nổi khác. Sự biến động này lan qua cả những mặt hàng như dầu thô và vàng, bạc… Theo nghiên cứu của Dailyfx.com, một trong những website có uy tín, chúng ta có 9 chỉ số kinh tế tác động mạnh đến sự dịch chuyển của đồng USD sau khi đươc thông báo. Trước khi đi vào những chỉ số làm giá biến động mạnh trong cả ngày, chúng ta tham khảo qua về những chỉ số khiến giá biến động mạnh 20 phút đầu tiên sau khi công bố.

Những chỉ số làm giá biến động mạnh trong 20 phút đầu tiên sau công bố
Chỉ số - Biến động trung bình (điểm) *
1. Nonfarm - Payrolls - Bảng lương phi nông nghiệp: 69
2. Interest rate (FOMC) - Lãi suất: 57
3. Inflation (CPI) - Lạm phát (Chỉ số giá tiêu dùng): 39
4. Retail Sales - Chỉ số bán lẻ: 35
5. Producer Price Index - Chỉ số giá sản xuất: 35
6. New Home Sales - Chỉ số nhà bán mới: 34
7. Existing Home Sales - Chỉ số nhà đã xây dựng sẵn bán: 34
8. Durable Goods Orders - Đơn đặt hàng lâu bền: 33

(*) Điểm là đơn vị biến động nhỏ nhất của cặp tiền tệ, còn gọi là pip. Đối với một tài khoản loại chuẩn (standard) thì một điểm tương đương với 10 USD. Một điểm của cặp vàng/usd (XAU/USD) là 10 cent.
Bên cạnh những chỉ số làm thị trường biến động mạnh trong 20 phút đầu tiên này, chúng ta sẽ có những chỉ số làm giá cả biến động mạnh trong ngày công bố thông tin như sau:

1. Nonfarm - Payrolls - Bảng lương phi nông nghiệp: 98
2. ISM Non-Manufacturing - Chỉ số ISM lĩnh vực phi sản xuất: 97
3. Personal Spending - Tiêu dùng cá nhân: 94
4. Inflation (CPI) - Lạm phát (Chỉ số giá tiêu dùng CPI): 94
5. Existing Home Sales - Chỉ số nhà cũ bán: 92
6. Consumer Confidence - Tâm lý tiêu dùng: 91
7. University of Michigan Consumer Confidence - Cuộc điều tra của Đại học Michigan về tâm lý tiêu dùng: 90
8. FOMC Minutes - Cuộc họp của Fed: 90
9. Industrial Production - Sản lượng công nghiệp: 90

Có thể nhận thấy trong những chỉ số tác động hàng đầu đến sự biến động của thị trường, mà trực tiếp là đồng USD liên quan đến một số lĩnh vực như : lãi suất, việc làm, lạm phát, nhà đất, tâm lý người tiêu dùng và công nghiệp. Đây là những yếu tố hàng đầu để đánh giá sức mạnh của một quốc gia. Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu những chỉ số làm thị trường biến động mạnh trong ngày.

Những chỉ số này làm thị trường biến động mạnh nếu chúng được công bố khác nhiều so với dự đoán. Trước khi công bố thông tin, các chuyên gia đã dự đoán về con số của chỉ số được công bố và thị trường gần như đã giao dịch theo hướng của con số dự đoán này. Vì vậy, nếu thông tin được công bố đúng như dự đoán, sẽ không có nhiều bất ngờ, ngược lại, nếu thông tin lệch nhiều so với dự đoán thì thị trường sẽ phản ứng rất mạnh.

I. Chỉ số Nonfarm - Payrolls – Bảng lương phi nông nghiệp – biến động trung bình 98 điểm

1. Khái niệm:
Chỉ số này đo lường số lượng người được thuê mướn mới trong tháng trước, ngoại trừ những người làm trong lĩnh vực nông nghiệp. Nước Mỹ là một nước phát triển hàng đầu, vì vậy việc dịch chuyển cơ cấu lao động từ ngành nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ khẳng định nền kinh tế đang phát triển thuận lợi
2. Tầm quan trọng:
Chỉ số này mang tính quan trọng cao vì nó được công bố khá sớm sau khi kết thúc 1 tháng. Với tầm quan trọng đã được nêu ở trên cộng với việc được công bố khá sớm trong tháng mới, những nhà đầu tư đều chú ý đến nó để phán đoán thực trạng của nền kinh tế
3. Tác động:
Chỉ số này quan trọng vì nếu nó tốt hơn so với dự đoán và những kì trước thì chứng tỏ nền kinh tế đang phát triển tốt, ngược lại nếu xấu hơn so với dự đoán và các kì trước thì có khả năng là nền kinh tế đang chững lại.
4. Cơ quan công bố:
Bureau of Labour Statistics – Cục thống kê Lao Động
5. Thời điểm và số lần công bố trong năm:
Ngày thứ Sáu của tuần đầu tiên trong tháng vào lúc 8:30 sáng EST (19:30 VN) – công bố số liệu tháng trước - công bố định kì theo tháng
6. Những cách gọi khác:
Bên cạnh tên gọi chính là Nonfarm – Payrolls, nó còn có một số tên gọi là NFP hoặc Nonfarm Employment Change

II. ISM Non-Manufacturing - Chỉ số ISM lĩnh vực phi sản xuất – biến động trung bình 97 điểm
1. Khái niệm:
Chỉ số này được tính toán dựa trên 1 cuộc điều tra trên 300 người quản lí bộ phận giao dịch của các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ như địa ốc, bảo hiểm, tài chính, truyền thông ... về các vấn đề như đơn hàng mới, tuyển dụng, mức độ hoạt động. Chỉ số này đánh giá về mức độ hoạt động chung của nhóm ngành dịch vụ.
2. Tầm quan trọng:
Nước Mỹ có hơn 70% lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ và lĩnh vực này đóng vai trò rất quan trọng tại Mỹ. Vì vậy nếu chỉ số này tốt thì sẽ tác động tốt đến đồng tiền quốc gia.
3. Tác động:
Chỉ số này trên 50 sẽ tốt cho nền kinh tế, ngược lại nếu dưới 50 sẽ không tốt.
4. Cơ quan công bố:
Institute for Supply Management – cơ quan quản lí nguồn cung
5. Thời điểm công bố và số lần công bố:
Công bố vào ngày làm việc thứ 3 kể từ đầu tháng – công bố định kì theo tháng.
6. Những tên gọi khác:
ISM Service

III. Personal Spending - Tiêu dùng cá nhân – biến động trung bình 94 điểm
1. Khái niệm:
Chỉ số này đo lường mức độ tăng lên hoặc giảm xuống bình quân của người tiêu dùng trong tháng trước.
2. Tầm quan trọng:
Chỉ số này quan trọng vì nếu người dân tăng tiêu dùng chứng tỏ khả năng kinh tế của họ đang tốt hơn, đồng thời việc tiêu dùng nhiều sẽ thúc đẩy sản xuất, làm nền kinh tế phát triển.
3. Tác động:
Chỉ số tăng nhiều so với dự đoán sẽ tốt cho nền kinh tế, ngược lại nếu xấu hơn dự đoán và những kì trước sẽ không tốt cho nền kinh tế.
4. Cơ quan công bố:
Bureau of Economic Analysis – Cục phân tích kinh tế.
5. Thời điểm công bố và số lần công bố:
Công bố vào ngày làm việc đầu tiên trong tháng – công bố định kì tháng.

IV. Inflation (CPI – Consumer Price Index) - Lạm phát (Chỉ số giá tiêu dùng) – biến động trung bình 94 điểm
1. Khái niệm:
Lạm phát của một quốc gia được thể hiện qua nhiều chỉ số, mà một trong những chỉ số quan trọng nhất là CPI – Chỉ số giá tiêu dùng. Chỉ số giá tiêu dùng sẽ đo mức độ thay đổi của giá cả một số mặt hàng đại diện trong rổ hàng hóa như thực phẩm, dịch vụ, nhà đất, quần áo, phương tiện vận chuyển. Những thay đổi giá cả này phản ánh mức độ lạm phát. Để nhằm loại bỏ sự nhiễu do 2 mặt hàng thực phẩm và phương tiện giao thông, nhà đầu tư thường chú ý nhiều đến chỉ số Core CPI – Chỉ số CPI lõi – hơn. Chỉ số Core CPI được tính từ chỉ số CPI sau khi đã loại bỏ những yếu tố liên quan đến thực phẩm và phương tiện giao thông.
2. Tầm quan trọng:
Chỉ số Core CPI rất quan trọng vì những biến động của nó phản ánh trực tiếp tình hình lạm phát. Nếu lạm phát tăng thì khả năng Fed nâng lãi suất lên để chống lạm phát khá cao và ngược lại.
3. Tác động:
Chỉ số này tăng thì khả năng Fed tăng lãi suất cao, dẫn đến việc khả năng đồng tiền có khả năng tăng giá trở lại, mặc dù sự thật là lạm phát cao thì xấu cho nền kinh tế. Đây là cách mà người giao dịch đặt những kì vọng vào tương lai, và hướng giao dịch của họ thường có xu hướng muốn đón đầu tương lai.
4. Cơ quan công bố:
Bureau of Labour Statistics – Cục thống kê Lao Động
5. Thời điểm công bố và số lần công bố:
Được công bố vào khoảng giữa tháng – công bố định kì theo tháng.

V. Existing Home Sales - Chỉ số nhà cũ bán – biến động trung bình 92 điểm
1. Khái niệm:
Chỉ số nhà bán cũ đo lường số lượng nhà cũ của cư dân được mua bán trên thị trường.
2. Tầm quan trọng:
Chỉ số này cho thấy hoạt động của thị trường địa ốc có sôi động hay không. Thị trường địa ốc là một trong những hàn thử biểu quan trọng của nền kinh tế. Vì vậy, nếu thị trường địa ốc hoạt động tốt sẽ chứng tỏ nền kinh tế quốc gia đang tốt. Nếu thị trường này nhộn nhịp sẽ chứng tỏ người dân đang có thu nhập tốt hơn và đang muốn mua nhà mới, bán đi nhà cũ. Vì nhà cửa là một tài sản lớn nên chỉ khi nào người dân có thu nhập tốt hơn nhiều thì mới mua nhà mới.
3. Tác động:
Chỉ số này tăng sẽ tốt cho nền kinh tế
Chỉ số này giảm chứng tỏ thị trường nhà đất đang gặp khó khăn, kéo theo tình hình kinh tế trì trệ
4. Cơ quan công bố:
The National Association of Realtors – Cơ quan quốc gia về các tổ chức môi giới bất động sản
5. Thời điểm công bố:
Ngày 25 hàng tháng – số liệu của tháng trước – công bố định kì theo tháng

VI. Consumer Confidence - Tâm lý tiêu dùng – biến động trung bình 91 điểm
1. Khái niệm:
Là một cuộc điều tra về tâm lý tiêu dùng. Cuộc điều tra này phỏng vấn 5000 người về quan điểm của họ đối với tình hình hiện tại và những dự đoán của họ về tương lai nền kinh tế
2. Tầm quan trọng:
Tiêu dùng của người dân chiếm đến 2/3 GDP vì vậy quan điểm của họ đối với nền kinh tế sẽ thể hiện khả năng chi tiêu của họ. Nếu họ cho rằng nền kinh tế đang tốt, tức là họ lạc quan thì khả năng tiêu dùng hiện tại của họ sẽ vẫn được giữ vững hoặc nâng lên và ngược lại.
3. Tác động:
Chỉ số này tăng sẽ tốt cho nền kinh tế và ngược lại
4. Cơ quan công bố:
The Conference Board
5. Thời điểm công bố và số lần công bố:
Công bố vào ngày thứ 4 (Thusday) của tuần cuối cùng trong tháng – số liệu của tháng trước - công bố định kì tháng.

VII. University of Michigan Consumer Confidence - Cuộc điều tra của Đại học Michigan về tâm lý tiêu dùng – Biến động trung bình 90 điểm
1. Khái niệm:
Là một cuộc điều tra 500 người của Đại học Michigan về tâm lý người tiêu dùng.
2. Tầm quan trọng:
Tâm lý người tiêu dùng rất quan trọng trong việc quyết định chi tiêu của họ. Vì vậy nắm được tâm lý khách hàng thì có thể dự đoán được sức cầu về sản phẩm và dịch vụ trong thời gian tới.
3. Tác động:
Chỉ số này tăng sẽ tốt cho nền kinh tế, ngược lại, nếu giảm sẽ xấu cho nền kinh tế, tức là xấu cho đồng tiền quốc gia đó.
4. Cơ quan công bố:
Đại Học Michigan, Mỹ
5. Thời điểm công bố và số lần công bố trong năm:
Công bố vào khoảng giữa tháng cho chỉ số lần đầu, ngoài ra còn có một chỉ số điều chỉnh
được công bố vào khoảng 25 đến 27 hàng tháng – Chỉ số này được công bố định kì theo tháng.
6. Tên gọi khác:
Reuter/Michigan Sentiment

VIII. Interest rate (FOMC - Federal Open Market Committee) - Lãi suất (Ủy ban thị trường mở liên bang) – biến động 90 điểm
1. Khái niệm:
Đây là mức lãi suất mà các ngân hàng phải thanh toán khi vay mượn từ các ngân hàng khác nhằm đảm bảo mức dự trữ của mình tại Cục Dự trữ Liên Bang. Lãi suất này được quản lí chặt chẽ bởi Cục Dự Trữ Liên Bang thông qua Ủy Ban thị trường mở FOMC.
2. Tầm quan trọng
Chỉ số này rất quan trọng vì nó thể hiện quan điểm của Cục Dự trữ Liên Bang (Fed) với tình hình kinh tế hiện tại, đồng thời những tác động lên lãi suất từ phía Fed sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức cung tiền.
3. Tác động
Nếu lãi suất được tăng lên thì sẽ tốt cho đồng tiền của quốc gia đó vì nó góp phần chống lạm phát. Ngược lại, nếu lãi suất bị hạ xuống thì đồng tiền trở nên mất giá hơn vì lạm phát gia tăng.
4. Cơ quan công bố
Lãi suất được công bố bởi Cục Dự Trữ Liên Bang (Fed)
5. Thời điểm và số lần công bố trong năm
Được công bố sau buổi họp của Fed - định kì 8 lần 1 năm
6. Cách gọi khác:
Fed Fund Rate

IX. Industrial Production - Sản lượng công nghiệp – biến động trung bình 90 điểm
1. Khái niệm:
Chỉ số này đo lường sản lượng đầu ra các sản phẩm công nghiệp, khai khoáng... của một quốc gia.
2. Tầm quan trọng:
Sản lượng công nghiệp chiếm 25% GDP của Mỹ, vì vậy những thay đổi trong lĩnh vực này tác động rất mạnh đến nền kinh tế và nếu chỉ số này tốt sẽ kéo theo một số vấn đề khác như có khả năng tỉ lệ người có việc làm sẽ tăng do doanh nghiệp thuê mướn thêm nhân công hoặc thu nhập người lao động sẽ tăng...
3. Tác động:
Chỉ số này tăng sẽ tốt cho nền kinh tế và ngược lại
4. Cơ quan công bố
Board of Governors of the Federal Reserve System
5. Thời điểm công bố:
Công bố khoảng ngày 15 hàng tháng – công bố định kì theo tháng.

1.3 Ngoài kinh tế Mỹ, cần quan tâm đến các thông tin kinh tế nào khác?
       Tình hình kinh tế Trung Quốc và mối tương quan với kinh tế Mỹ
       Tình hình kinh tế Châu Âu và khu vực EUR Zone.
       Tình hình kinh tế Nhật Bản- Ấn Độ và khu vực Châu Á.

       Cung cầu vàng tại các quốc gia có dữ trữ vàng và nhu cầu vàng lớn.

Những thông tin ảnh hưởng Vàng - Ngoại tệ


NHỮNG THÔNG TIN ẢNH HƯỞNG
VÀNG - NGOẠI TỆ

Mỹ:

ISM Manufacturing PMI ( PMI-Purchasing Managers Index)

- Chỉ số sản xuất ISM: đo lường hoạt động của các doanh nghiệp trong khu vực sản xuất, gồm các dữ liệu về công ăn việc làm, sản xuất, các đơn đặt hàng mới, giá cả, nguồn cung nguyên vật liệu, nguồn dự trữ. Học viện quản lý nguồn cùng (ISM) thực hiện qua khảo sát 400 người đứng đầu bộ phận thu mua cung ứng của các doanh nghiệp. Sự tăng lên của ISM cho thấy đồng tiền của quốc gia đang mạnh dần lên. Các chỉ số thể hiện hoạt động thu mua này là những chỉ số tốt bởi vì chúng đánh giá tình hình hoạt động của một công ty, thường đi đôi với những biểu hiện toàn diện của nền kinh tế. Mức PMI > 50 --> ngành sản xuất đang phát triển, PMI sản xuất đang thu hẹp. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

ISM Manufacturing Prices – Giá cả sản xuất ISM ( ISM- Institution for Supply Managermen) : nguyên tắc thực hiện tương tự ISM Manufacturing PMI, công bố hàng tháng vào ngày làm việc đầu tiên của tháng mới. Giá cả sản xuất ISM là một thành phần của ISM Manufacturing PMI, nhưng được công bố tách biệt như một công cụ đo lường lạm phát. Giá trị > 50 là giá cả tăng lên, giá trị dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Construction Spending m/m – Chi phí xây dựng: thay đổi (dạng %) trong tổng giá trị các chi phí mà các nhà xây dựng đổ vào các dự án. Công bố hàng tháng, khoảng 30 sau khi tháng thống kê chấm dứt. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Total Vehicle Sales - Doanh số bán ôtô: Doanh số bán xe oto con và xe tải. Công bố hàng tháng. Doanh số tốt chứng tỏ người tiêu dùng tự tin vào khả năng tài chính của mình, sẵn sàng chi nhiều tiền vào những món hàng giá trị cao. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Challenger Job Cuts y/y – Cắt giảm việc làm do hãng Challenger, Gray & Christmas, Inc. thống kê: thay đổi trong số việc làm bị cắt giảm. Số liệu thực tế < dự báo là USD tăng, vàng giảm.

ADP Non-Farm Employment Change – Thay đổi việc làm phi nông nghiệp do hãng ADP công bố: thay đổi trong số người có công ăn việc làm trong tháng trước, ngoại trừ khu vực nông nghiệp và quản lý nhà nước. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

ISM Non-Manufacturing PMI - Chỉ số phi sản xuất ISM: Chỉ số tương tự ISM Manufacturing PMI, nhưng ngoại trừ ngành công nghiệp sản xuất. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Crude Oil Inventories – Dự trữ dầu thô: thay đổi trong số lượng thùng dầu thô dự trữ trong các doanh nghiệp thương mại trong tuần trước. Ảnh hưởng của nó không rỏ ràng vào TT khi cho cả 2 thông tin về Lạm phát và Tăng trưởng; Nó là chỉ số của Mỹ, nhưng hầu hết có ảnh hưởng đến đồng CAD vì ngành năng lượng của Canada chiếm phần lớn tỉ trọng trong nền kinh tế. Dự trữ tăng là giá dầu giảm và vàng giảm.

Beige Book – báo cáo Beige: Báo cáo này sẽ được công bố vào lúc 2g00 sáng, tóm tắt những bình luận của các chuyên gia kinh tế của các FED chi nhánh về tình hình nền kinh tế hiện tại. Đây là báo cáo được xuất bản 8 lần vào mỗi năm. Ngân hàng dự trự ở mỗi Bang sẽ thu thập những thông tin về nền kinh tế hiện tại ở mỗi chi nhánh thông qua các báo cáo từ giám đốc của các ngân hàng và chi nhánh, những lời phỏng vấn với những doanh nghiệp chủ chốt, các nhà phân tích kinh tế, các chuyên gia thị trường và một số nguồn khác. Tất các những thông tin này sẽ được tổng hợp, phân tích và được dùng với mục đích hộ trợ cho FOMC trong việc đưa ra quyết định lãi suất vào kỳ họp tới. Bản Beige Book có nội dung tích cực à USD tăng là vàng giảm.

Unemployment Claims – Đơn xin trợ cấp thất nghiệp: số người lần đầu tiên xin trợ cấp thất nghiệp tính trong tuần trước, được công bố hàng tuần. Số liệu thực tế < dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Pending Home Sales - Doanh số nhà chờ bán: Số lượng nhà đang chờ hoàn tất hợp đồng mua bán, ngoại trừ nhà đang xây dựng. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.
Revised Nonfarm Productivity – Số liệu cuối cùng về năng suất phi nông nghiệp: Đo lường sự tăng trưởng mỗi quý hằng năm về hiệu quả lao động cho sản xuất hàng hóa và dịch vụ ngoài nông nghiệp. Số liệu thực tế < dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Revised Unit Labor Costs – Số liệu cuối cùng về chi phí nhân công: mức thay đổi (dạng %) trong số tiền lương/tiền công mà doanh nghiệp trả cho nhân công, không tính ngành nông nghiệp. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Factory Orders - Đơn đặt hàng nhà máy: mức thay đổi (dạng %) trong số đơn đặt hàng đối với các nhà sản xuất. Gồm cả số liệu về các mặt hàng lâu bền và không lâu bền. Chỉ số này tăng có nghĩa là các nhà sản xuất phải tăng công suất để đạt tiến độ hợp đồng à Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Natural Gas Storage - Dự trữ khí ga: thay đổi trong khối lượng của dự trữ khí ga tự nhiên được trữ trong các kho dưới lòng đất trong suốt một tuần qua. Ảnh hưởng của nó không rỏ ràng vào TT khi cho cả 2 thông tin về Lạm phát và Tăng trưởng; Nó là chỉ số của Mỹ, nhưng hầu hết có ảnh hưởng đến đồng CAD vì ngành năng lượng của Canada chiếm phần lớn tỉ trọng trong nền kinh tế. Dự trữ tăng là giá dầu giảm là vàng giảm.

Retail Sales – Doanh số bán lẻ: thay đổi (dạng %) trong tổng doanh số bán lẻ. Sự quan trọng của tin này là ở chỗ bán lẻ là thành tố chính trong chi phí tiêu dùng – vốn là động lực chính của hoạt động kinh tế. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Core Retail Sales – Doanh số bán lẻ lõi: thay đổi (dạng %) trong tổng doanh số bán lẻ không tính oto. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Empire State Manufacturing Index – Chỉ số sản xuất New York: Do ngân hàng dự trữ liên bang New York công bố hàng tháng. Chỉ số > 0 là tình hình tích cực, chỉ số dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Business Inventories – Dự trữ thương mại: thay đổi (dạng %) trong tổng giá trị các hàng hóa được nắm giữ bởi các nhà sản xuất, các nhà bán buôn, và các nhà bán lẻ. Khi con số này tăng lên nó tác động tích cực đến đồng tiền của quốc gia đó bởi vì các nhà bán lẻ đặt hàng nhiều hơn nếu lượng dự trữ giảm xuống. Số liệu thực tế < dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Non-Farm Employment Change - Thay đổi việc làm phi nông nghiệp: thay đổi trong số người có công ăn việc làm trong tháng trước, ngoại trừ khu vực nông nghiệp. Tin này còn gọi là Non-Farm Payrolls (Bảng lương phi nông nghiệp). Tin này cực kỳ quan trọng, vì việc tạo công ăn việc làm kéo theo thay đổi trong lượng tiền đổ vào tiêu dùng – vốn là đầu tàu của hoạt động kinh tế. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Unemployment Rate - Tỷ lệ thất nghiệp: tỷ lê phần trăm của số người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc trong tháng vừa qua. Tỷ lệ này giảm sẽ làm cho đồng tiền quốc gia mạnh lên vì khi người dân có việc làm họ sẽ có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn qua đó đóng góp nhiều hơn cho GDP. Số liệu thực tế < dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Average Hourly Earnings – thu nhập trung bình hàng giờ: Mức thay đổi (dạng %) trong số tiền lương/tiền công mà doanh nghiệp trả cho nhân công, không tính ngành nông nghiệp. Khi chỉ số này tăng à các doanh nghiệp chi nhiều hơn vào chi phí nhân công àngười tiêu dùng phải trả nhiều hơn cho sản phẩm. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Consumer Credit – tín dụng tiêu dùng: Mức thay đổi (dạng %) trong tín dụng tiêu dùng dư nợ đòi hỏi thanh toán từng đợt. Số liệu thực tế > dự báo à USD tăng, vàng giảm.

GDP sơ bộ: thay đổi (dạng %) trong giá trị đã điều chỉnh theo lạm phát của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ do nền kinh tế sản xuất. Đây là chỉ số đo lường một cách tổng thể nhất hoạt động của nền kinh tế và là chỉ báo hàng đầu cho biết sức khỏe của nền kinh tế, được công bố hàng quý. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Chỉ số giá GDP sơ bộ: thay đổi (dạng %) trong giá cả hàng hóa dịch vụ được tính trong GDP. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

S&P/CS Composite-20 HPI - Chỉ số giá nhà S&P/CS: thay đổi (dạng %) trong giá bán nhà trong 20 khu vực đô thị lớn của Mỹ. Chỉ số do hãng

Standard & Poor's công bố. Chỉ số cao à kích thích các nhà đầu tư và cả ngành công nghiệp xây dựng nói chung. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

CB Consumer Confidence - Niềm tin tiêu dùng CB: Do tổ chức phi lợi nhuận Conference Board công bố. Niềm tin tiêu dùng được khảo sát hàng tháng hơn 5.000 hộ, cho biết tâm lý của người tiêu dùng và nó liên quan tới một số điều kiện kinh tế nhằm đánh giá tiềm năng của kinh tế trong tương lai. Số liệu càng cao chứng tỏ niềm lạc quan của người tiêu dùng càng cao. Khi người tiêu dùng cảm thấy lạc quan đối với nền kinh tế, họ có xu hướng mua sắm nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn, điều này thúc đẩy kinh tế phát triển. Thông tin được lấy từ tháng hiện tại và công bố ngày thứ 3 cuối tháng. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

HPI - Chỉ số giá nhà: thay đổi (dạng %) của giá bán nhà theo dạng thế chấp do Quỹ Thế chấp Nhà ở Liên bang đảm bảo. Chỉ số cao là kích thích các nhà đầu tư và cả ngành công nghiệp xây dựng nói chung. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Richmond Manufacturing Index - Chỉ số sản xuất Richmond tại Mỹ: Chỉ số này được tổng hợp dựa trên khảo sát của các nhà sản xuất của Richmond. Chỉ số này nếu thực tế tốt hơn dự đoán sẽ có ảnh hưởng tích cực cho đồng tiền của quốc gia đó. Chỉ số này được công bố hàng tháng vào tuần cuối cùng của tháng.

Chicago PMI - Chỉ số thu mua PMI của Chicago: thể hiện tình hình chung của môi trường kinh doanh ở Chicago. Chỉ số bao gồm các dữ liệu về sản lượng đầu ra, tình hình thu mua, số lượng việc làm, số lượng hàng tồn kho, các đơn hàng và các chỉ số giá cả. Mức PMI > 50 là ngành sản xuất đang phát triển, PMI dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Biên bản cuộc họp của FOMC:

Biên bản cuộc họp của Uỷ ban kiểm soát thị trường tự do sẽ giúp cho các thành viên đưa ra các chính sách và quyết định liên quan tới lãi suất.

Mortgage Delinquencies – Các khoản nợ thế chấp mua nhà khó đòi: Số nợ thế chấp chưa thanh toán bị Hiệp hội Ngân hàng cho vay thế chấp (MBA) bắt đầu thủ tục tịch biên nợ trong quý trước. Đây là chỉ số quan trọng trong thị trường nhà đất – số lượng nhà trong quá trình chưa thanh toán càng ít thì số lượng nhà khởi công trong tương lai càng cao. Số liệu thực tế < dự báo là USD tăng, vàng giảm.

IBD/TIPP Economic Optimism – Chỉ số lạc quan kinh tế: do nhật báo Investor's Business Daily (IBD) và học viện TechnoMetrica Institute of Policy and Politics (TIPP) khảo sát đối với 900 người tiêu dùng về tình trạng kinh tế (viễn cảnh kinh tế 6 tháng tới, viễn cảnh tài chính cá nhân, niềm tin vào chính sách kinh tế của chính phủ). Chỉ số > 50 à lạc quan, dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Wholesale Inventories - Dự trữ bán buôn: thay đổi (dạng %) của tổng giá trị hàng hóa nắm giữ trong kho dự trữ của các nhà bán buôn. Dự trữ càng ít à doanh nghiệp phải mua thêm hàng hóa à nền kinh tế được ủng hộ. Số liệu thực tế < dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Loan Officer Survey – Khảo sát tình trạng cho vay của ngân hàng: Kết quả càng tốt chứng tỏ người tiêu dùng và doanh nghiệp mạnh tay vay nợ ngân hàng để tiêu dùng và kinh doanh à kinh tế tốt là USD tăng, vàng giảm.

Federal Budget Balance – Cân bằng ngân sách liên bang: chênh lệch giữa thu và chi của ngân sách liên bang trong tháng trước. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Core PCE Price Index - Chỉ số giá cả PCE lõi: thay đổi (dạng %) trong giá cả các hàng hóa và dịch vụ do người tiêu dùng tiêu thụ, ngoài trừ thực phẩm và năng lượng. Giống như CPI, nó tương phản sự thay đổi trong giá cả hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng. PCE chỉ khác với CPI ở chỗ nó chỉ đo lường hàng hóa và dịch vụ được đặt mục tiêu và chú trọng tới các cá nhân. PCE lõi được thị trường theo dõi sát sao bởi Fed thường quan tâm tới chỉ số này khi đánh giá mức độ lạm phát của nền kinh tế. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Personal Spending m/m - Chi tiêu cá nhân hàng tháng tại Mỹ: thay đổi (dạng %) trong tổng giá trị các khoản chi dùng đã được điều chỉnh theo lạm phát của người tiêu dùng. Xu hướng tăng của chỉ số này có tác động tích cực tới đồng tiền quốc gia bởi lượng tiêu dùng là yếu tố chính tác động đến kinh tế, nó chiếm khoảng 2/3 GDP. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Personal Income m/m - thu nhập cá nhân hàng tháng tại Mỹ: thay đổi (dạng %) trong tổng giá trị nguồn thu nhập của người tiêu dùng. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Revised UoM Consumer Sentiment - Chỉ số tâm lý tiêu dùng của ĐH Michigan: Đo lường sự hài lòng về mức độ thỏa mãn của nền kinh tế hiện tại mang lại và nền kinh tế tương lai. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Revised UoM Inflation Expectations - Chỉ số kỳ vọng lạm phát của ĐH Michigan: đo lường tỷ lệ phần trăm người tiêu dùng kỳ vọng sự thay đổi giá cả hàng hóa dịch vụ trong vòng 12 tháng do ĐH Michigan khảo sát. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

New Home Sales - Doanh số bán nhà mới: Số lượng nhà mới được bán trong tháng trước. Tin này cực kỳ quan trọng vì là một chỉ báo quan trọng của sức khỏe nền kinh tế. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Trade Balance – Cán cân thương mại: khác biệt giữa giá trị hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu và xuất khẩu. Công bố hàng tháng. Nhu cầu xuất khẩu và nhu cầu về đồng tiền quốc gia có mối liên quan trực tiếp: các nước nhập khẩu hàng Mỹ phải mua USD để thanh toán. Xuất khẩu mạnh ảnh hưởng tới sản xuất và chi phí sản xuất của Mỹ. Số liệu thực tế > dự báo là USD tăng, vàng giảm.

Châu Á:

Báo cáo hàng tháng của BOJ tại Nhật công bố lúc 12:00 PM. Báo cáo này sẽ đưa ra dữ liệu thống kê đánh giá của các thành viên Hội đồng chính sách BOJ về quyết định lãi suất và cung cấp những phân tích chi tiết về tình hình kinh tế hiện tại và tương lai theo cái nhìn của các ngân hàng.

Housing Starts – Lượng nhà khởi công xây dựng: thay đổi trong số lượng nhà ở đã được khởi công xây dựng. Công bố hàng tháng, khoảng 30 ngày sau khi tháng thống kê kết thúc. Số liệu thực tế > dự báo là Yên tăng, vàng giảm.

Châu Âu:

UBS Consumption Indicator - Chỉ số tiêu thụ UBS của Thụy Sĩ: Mức độ của chỉ báo này dựa trên 5 chỉ báo kinh tế bao gồm niềm tin tiêu dùng, chi tiêu tiêu dùng, du lịch, doanh số xe mới và hoạt động bán lẻ. Dữ liệu này được công bố hàng tháng, khoảng 28 ngày sau khi tháng kết thúc. Dữ liệu thật lớn hơn kỳ vọng sẽ tốt cho tiền tệ quốc gia.

GDP cuối cùng của Đức: Con số này đo lường tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế được điều chỉnh theo lạm phát. GDP được công bố 2 lần đó là sơ bộ và cuối cùng. Con số sơ bộ được công bố trước và có xu hướng tác động mạnh hơn. Dữ liệu thật lớn hơn kỳ vọng sẽ tốt cho tiền tệ quốc gia.

French Consumer Spending m/m - Chi tiêu người tiêu dùng của Pháp: Chỉ số giúp đo lường tổng chi tiêu của người tiêu dùng đối với hàng hóa và dịch vụ. Xu hướng tăng lên tác động tích cực đến đồng tiền của quốc gia vì chi tiêu tiêu dùng chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, khoảng 2/3 GDP.
CBI Realized Sales -Doanh số bán lẻ CBI tại Anh: Đây là bản thống kê giá trị của các hoạt động bán lẻ chính thức (không bao gồm chi tiêu trong dịch vụ). Xu hướng tăng của báo cáo này có tác động tích cực tới đồng tiền của Quốc Gia bởi doanh số bán lẻ thể hiện sức mạnh mua sắm của người tiêu dùng - nhân tố chính tác động tới nền kinh tế và GDP. Các nhà đầu tư thường chú ý theo dõi báo cáo này bởi nó thường là chỉ dẫn đáng kể đầu tiên của tháng đối với các diễn biến của nền kinh tế và của thị trường. Số liệu thực tế > dự báo à GBP tăng, vàng tăng.

GfK Consumer Confidence – Niềm tin tiêu dùng Anh do hãng GfK công bố: chỉ số > 0 là lạc quan, chỉ số dự báo là GBP tăng, vàng tăng.

ECO Consumer Climate - Môi trường tiêu dùng công bố tại Thụy Sỹ: Chỉ số khảo sát trên 1.100 hộ gia đình. Nếu chỉ số này tăng hơn dự báo, vàng và Euro được hỗ trợ tăng và ngược lại.

Construction PMI - PMI xây dựng tại Anh: Chỉ số này đo lường mức độ hoạt động mua sắm trong lĩnh vực xây dựng, chỉ số này vượt quá 50 là dấu hiệu cho thấy một lĩnh vực trong nền kinh tế được mở rộng. Chỉ số này tăng lên sẽ làm cho đồng tiền quốc gia mạnh lên. Để đưa ra chỉ số này các nhà quản lý đã nghiên cứu rất nhiều chỉ tiêu: việc làm, sản lượng, các đơn hàng mới, các nhà cung cấp, lượng hàng hóa dự trữ. Các nhà thương mại thường rất chú ý đến chỉ số này vì nó ảnh hưởng lớn đến các công ty của họ. Đây là chỉ tiêu có thể chỉ ra sự thay đổi một lĩnh vực trong toàn bộ nền kinh tế. Số liệu thực tế > dự báo là GBP tăng, vàng tăng.

Tỷ lệ việc làm của Thụy Sĩ: Chỉ số mô tả số người được thuê mướn trong suốt quý trước. Dữ liệu này được công bố khoảng 55 ngày sau khi kết thúc quý. Dữ liệu thật lớn hơn kỳ vọng sẽ tốt cho tiền tệ quốc gia. Số việc làm được tạo ra là một chỉ báo hàng đầu quan trọng của chi tiêu tiêu dùng - thành phần chiếm đa số của hoạt động kinh tế.

German Ifo Business Climate - Môi trường kinh doanh của Đức: Chỉ số này dựa trên khảo sát của các nhà sản xuất, xây dựng, các nhà bán sỉ, bán lẻ và được công bố khoảng 3 tuần kể từ đầu tháng của tháng hiện tại. Đây là chỉ báo hàng đầu về sức khỏe của nền kinh tế - các doanh nghiệp phản ứng nhanh với tình hình thị trường và sự thay đổi cảm tính của họ có thể là dấu hiệu ban đầu của hoạt động kinh tế trong tương lai như chi tiêu, thuê mướn và đầu tư. Số liệu thật lớn hơn kỳ vọng sẽ tốt cho tiền tệ quốc gia.

BBA Mortgage Approvals - Chấp thuận cho vay của BBA tại Anh : Chấp thuận này thể hiện số lượng nhà cầm cố trong tháng trước. Xu hướng tăng tác động tốt đến đồng tiền quốc gia đó, vì sự chi tiêu lớn sẽ được tạo ra bởi người tiêu dùng thể hiện sự lạc quan và tin tưởng vào tài chính.

Chỉ số đầu tư thương mại của Anh ( m/m): Con số này thể hiện sự thay đổi về giá trị đầu tư kinh doanh chỉ của khu vực Chính phủ và các doanh nghiệp, không có các cá nhân.

Inflation Report Hearings - Báo cáo lạm phát của Anh công bố lúc 16:45 PM

Môi trường thương mại của ngân hàng quốc gia Bỉ: Chỉ số này được đo lường thông qua một cuộc khảo sát đối với các nhà sản xuất, nhà thầu và các công ty liên quan đến thương mại về môi trường kinh doanh. Các doanh nghiệp sẽ phản ứng một cách nhanh chóng với các điều kiện thị trường, và sự thay đổi trong tâm lý là tín hiệu cho hoạt động kinh tế trong tương lai: chi tiêu, thuê nhân công và đầu tư. Chỉ số lớn hơn 0 ngụ ý rằng các điều kiện đang được cải thiện, nhỏ hơn 0 cho thấy các điện kiện kinh doanh đang tồi tệ.

German Import Prices m/m - Giá nhập khẩu của Đức:Chỉ số giá nhập khẩu đánh giá tỷ lệ lạm phát trong nhập khẩu hàng hóa. Chỉ số này giảm hơn dự báo, sẽ là yếu tố tác động đến giá vàng giảm. Positive à vàng tăng.

Retail Sales - Doanh số bán lẻ tại Ý: Chỉ số này thống kê giá trị của các hoạt động bán lẻ chính thức (không bao gồm chi tiêu trong dịch vụ). Xu hướng tăng của báo cáo này có tác động tích cực tới đồng tiền của Quốc Gia bởi doanh số bán lẻ thể hiện sức mạnh mua sắm của người tiêu dùng - nhân tố chính tác động tới nền kinh tế và GDP. Các nhà đầu tư thường chú ý theo dõi báo cáo này bởi nó thường là chỉ dẫn đáng kể đầu tiên của tháng đối với các diễn biến của nền kinh tế và của thị trường. Thông tin được lấy từ tháng trước và công bố vào giữa tháng. Số liệu thực tế > dự báo là EURO tăng, vàng tăng.

GDP m/m - GDP hàng tháng tại Anh: Chỉ số đo lường một cách tổng thể nhất hoạt động của nền kinh tế và là chỉ báo hàng đầu cho biết sức khỏe của nền kinh tế. Nếu chỉ số này giảm như dự báo hoặc hơn dự báo, trong ngắn hạn GBP sẽ chịu tác động giảm làm cho giá vàng giảm theo.

Admin

Bản quyền thuộc về
Địa chỉ: 053 Phố Bế Văn Đàn, P.Hợp Giang, Tp.Cao Bằng
ĐT: 0988.86.22.88 - (026).395.66.88

Thông tin truy cập

Tổng số lượt xem trang